Trang chủ >>Sự kiện >> Thăng Long thời Mạc và Lê -Trịnh
Thăng Long thời Mạc và Lê -Trịnh

|
Bia tiến sĩ khoa thi Hội năm Kỷ Sửu dưới đời Mạc Đăng Dung ở Văn Miếu - Ảnh tư liệu |
Quốc gia Đại Việt thời Lê sơ, đặc biệt là dưới triều Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đã đạt được những thành tựu phát triển rực rỡ. Tuy nhiên, sau khi vua Thánh Tông qua đời, nhà Lê suy thoái nhanh chóng. Nhiều thế lực phong kiến nổi lên tranh nhau nắm quyền, trong đó có thế lực của Mạc Đăng Dung.
Đăng Dung người làng Cổ Trai (nay là xã Ngũ Đoan, Kiến Thụy, Hải Phòng). Do công dẹp loạn trong triều, Đăng Dung đã vươn lên đến tước hiệu cao nhất, chi phối toàn bộ triều đình.
Sử chép: Tháng 6/1527, “Đăng Dung từ Cổ Trai vào kinh, bắt vua phải nhường ngôi. Bấy giờ thần dân trong kinh đã chán vua trước, đều đón Đăng Dung vào”. Nhưng triều Mạc cũng không giữ được chính quyền bao lâu. Vua Mạc Phúc Nguyên năm Kỷ Dậu 1549 phải bỏ Thăng Long ra ngoại thành. Cuộc chiến giữa hậu duệ nhà Lê với Mạc Phúc Nguyên diễn ra gay gắt, được gọi là cuộc chiến Nam – Bắc triều.
Tháng 6/1585, Mạc Mậu Hợp muốn vào ở thành Thăng Long, nên tăng cường sửa sang, xây đắp. Không chỉ dừng lại ở việc xây dựng các cung điện, đến 1587 nhà Mạc cho sửa sang gia cố vòng thành ngoài thành Thăng Long. Hệ thống thành lũy, cung điện, phố phường được khôi phục.
Thành Đại La thời Mạc Mậu Hợp chạy suốt từ Nhật Tân qua Bưởi, Láng, Ô Cầu Giấy, vòng qua đường La thành, Ô Chợ Dừa, Kim Liên, Ô Cầu Dền, qua Ông Đống Mác đến giáp đê sông Hồng, cao hơn cả Hoàng thành, tường thành rộng 25 trượng, có 3 lần hào, trồng tre làm lũy, dài mấy mươi dặm.
Đến năm 1592, Trịnh Tùng đem quân ra Thăng Long đánh Mạc, đã phá hủy hoàn toàn tòa thành này. Từ đó cho đến năm 1749, Thăng Long không còn vòng thành ngoài bao bọc nữa.
Tháng 4 năm Quý Tỵ (1593), vua Lê Thế Tông trở về Thăng Long, đánh dấu sự phục hưng của triều Lê nhưng chỉ là trên danh nghĩa, còn thực quyền đã nằm trong tay chúa Trịnh.
Năm Giáp Ngọ (1594), phủ Chúa Trịnh bắt đầu được xây dựng.
Ban đầu phủ chúa chỉ giới hạn ở một khu vực phía Nam hồ Hoàn Kiếm ngày nay. Phủ chúa hình vuông, có tường bao bọc, thông ra ngoài bằng hai cửa: Chính Môn (phía Nam) và Tuyên Vũ Môn (phía Đông). Xung quanh hồ xây dựng nhiều nguyệt đài, thủy tạ, như cung Bảo Khánh (nền Đền Ngọc Sơn ngày nay), Tả Vọng Đình (nền Tháp Rùa ngày nay), gần cửa ô Tây Long (Bảo tàng Lịch sử ngày nay) là Lầu Ngũ Long.
Với một quy mô rộng lớn nguy nga, có thể nói phủ Chúa Trịnh là quần thể kiến trúc đồ sộ và tiêu biểu nhất của Thăng Long các thế kỷ 17 – 18, những nhà du hành đầu tiên đến từ phương Tây cũng phải viết sách công nhận là nơi đô hội, đẹp đẽ, hoành tráng.
Trong lúc chế độ phong kiến Việt Nam đang trải qua những bước thăng trầm và cố gắng hồi phục, thì nhiều người nước ngoài đã lần tìm đến để buôn bán, truyền đạo.
Mở đầu, từ tháng 3 năm Quý Mùi (1523) niên hiệu Thống Nguyên năm thứ 2, đã có sứ giả của triều đình Bồ Đào Nha là Duarté Coelho sang thăm để xin truyền giáo. Đến 1626, Hội truyền giáo Ma Cao đã gửi vị thừa sai Baldinotti người Ý cùng một thầy trợ giảng người Nhật theo tàu buôn vào Thăng Long xin yết kiến Chúa Trịnh.
Năm 1637, Công ty Đông Ấn của Hà Lan đã dùng chiếc tàu Grol từ Hirado (Nhật) qua Đài Loan đến Đàng Ngoài, ngược sông Hồng, qua Phố Hiến (Hưng Yên) đến Kẻ Chợ (Thăng Long). Vua Lê Thần Tông đồng ý cho Hà Lan mở một thương điếm tại Phố Hiến, sau đó lại chuyển lên Kẻ Chợ. Trưởng đại diện Hà Lan Karal Hartsinck đã hứa với Chúa Trịnh, vua Lê là sẽ ủng hộ và giúp đỡ Đàng Ngoài trong cuộc phân tranh với chúa Nguyễn. Có thể coi đây là sự mở đầu cho một quan hệ mới trong các hoạt động đối ngoại của triều đình Đại Nam với nước ngoài vì nhu cầu kinh tế và chính trị.
Tại Thăng Long, vào năm 1645, người Hà Lan đã lập thương điếm, nay được coi là cơ sở thương mại phương Tây đầu tiên đặt ở Hà Nội.
Lúc đầu, trụ sở được dựng ở gần bờ sông Hồng, quãng phía đông hồ Hoàn Kiếm. Năm 1649, chúa Trịnh lấy đất làm trường tập bắn, thương điếm phải chuyển lên quãng gần đầu cầu Long Biên ngày nay (theo bản vẽ của S. Baron).
Đến giữa thế kỷ 17, với sự hiện diện của nhiều nước phương Tây khác, tháng 5/1650, Chúa Trịnh ra lệnh quy định rõ nơi tạm trú cho thuyền buôn nước ngoài đến Kinh thành.
Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh mẽ của nhiều thương đoàn nước ngoài đến cạnh tranh nhau, việc quản lý trật tự kinh thành ngày càng khó khăn. Mặt khác, dưới vỏ bọc của các đoàn thương nhân, nhiều giáo sĩ phương Tây thường xuyên mở rộng việc truyền đạo tùy tiện. Chính vì vậy, tháng 8/1687, triều đình ra lệnh buộc người ngoại quốc không được ở lẫn trong kinh kỳ với người bản xứ.
Từ đầu thế kỷ 18, các hoạt động thương mại ở Thăng Long ngày càng suy giảm. Trong khi đó, các giáo sĩ thừa sai hay lợi dụng tình hình bất ổn của xã hội Đàng Ngoài để tổ chức các hoạt động truyền giáo và dò xét nội tình nước ta, nhằm mở đường cho các hoạt động thôn tính xâm lược của thực dân phương Tây.
Tháng 11/1746, Chúa Trịnh Doanh ra 7 điều lệnh cho quan Đề lĩnh thi hành: cấm trong nhà dung túng cho bọn gian tế trú ngụ, cấm lính tuần hành trong thành làm sự càn bậy nhốn nháo, gây mất trật tự trị an, khách buôn bán không được ngủ đêm trong thành, 8 cửa thành khi mở khi đóng phải đúng giờ giấc.
Để bảo vệ cho kinh đô Thăng Long, năm 1749 chúa Trịnh Doanh ra lệnh điều động dân phu đắp lại vòng thành ngoài, dựa theo thành Đại La cũ, gọi là thành Đại Đô. 16 cửa ô của thành mới là: ô Cầu Giấy, ô Bưởi, ô Thạch Khối, ô Đông Hà, ô Trường Thanh, ô Mỹ Lộc, ô Tây Long, ô Thanh Lãng (Đống Mác), ô Đông Hà (sau này gọi là ô Quan Chưởng) ở phía Đông và phía Bắc; ô Thanh Bảo (hay Vạn Bảo - nay ở cuối phố Kim Mã), ở phía Tây; ô Yên Thọ (Cầu Dền), ô Kim Hoa (Kim Liên, Đồng Lầm), ô Thịnh Quang (Chợ Dừa) ở phía Nam.
Trong các ô phía Đông và Đông Bắc, có một số đồng thời là các bến đò sông Hồng. Cửa ô Thanh Bảo ở phía Tây mở đường lên trấn Sơn Tây. Các cửa ô phía Nam mở đường xuống các trấn phía Nam. Ban đêm, các cửa ô được đóng chặt, có binh lính gác cẩn mật, sáng sớm mới được mở cho nhân dân đi lại ra vào.
Thăng Long trong thời Lê – Trịnh đã được mở rộng, khang trang hơn trước. Các làng nghề phát triển ở các tỉnh lân cận đã mang được nhiều hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo (tơ lụa, gốm sứ) đến bày bán trên đất đế đô.
Trần Thái Bình
(Nhà nghiên cứu lịch sử)
http://thanglong.chinhphu.vn/Home/Thang-Long-thoi-Mac-va-Le-Trinh/20101/4674.vgp
- Tứ Bình Thực Lục
- Thành lập Hội đồng họ Trịnh huyện Võ Nhai
- Kỷ niệm 223 năm ngày Linh Vương Trịnh Khải tuẫn tiết
- Họ Trịnh và di sản văn hoá thời Lê- Trịnh, trên đất Hải Phòng
- Danh của vua, công của chúa: Vua Lê Dụ Tông và chúa Trịnh Cương
- Lễ kỷ niệm 223, ngày Linh Vương Trịnh Khải tuẫn tiết
- Thư chúc mừng - Hội thảo tại Hải Phòng
- Thư cảm ơn - Hội thảo tại Hải Phòng
- Thành lập hội đồng họ Trịnh Thái Bình
- Họ Trịnh Hải Phòng
- Thư cảm ơn của Hội đồng họ Trịnh Bắc Kạn và Thái Nguyên
- Thành lập Hội đồng họ Trịnh hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên
- Họ Trịnh Bắc Kạn
- Hội đồng họ Trịnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2007 - 2012
- Thăm và trao đổi cùng bà con họ Trịnh tỉnh Bắc Kạn
- Ra mắt bản tin về họ Trịnh hàng quí
- Thành lập hội đồng họ Trịnh tỉnh Nghệ An
- Ra mắt Hội đồng Họ Trịnh tỉnh Bắc Ninh
- Hoạt động họ Trịnh Thái Nguyên sau lễ ra mắt
- Đội Cấn và cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên 1917
- Đóng góp xây dựng khu lăng mộ Thành tổ Triết vương Trịnh Tùng
- Các cuộc hội thảo lớn trong năm 2008
- Tổ chức lễ cầu siêu tại đền bà Đế
- Hội thảo nhân 385 năm ngày mất của Thành tổ Triết Vương Trịnh Tùng (1550-1623)
- Bài phát biểu của ông Trịnh Trúc Lâm
- Hội thảo khoa học tại Hải Phòng
- Lễ ra mắt Hội đồng họ Trịnh Thái Nguyên và Bắc Kạn
- Hội thảo khoa học “Trịnh Sâm - cuộc đời và sự nghiệp”
Nghịch nước sôi, bé 15 tháng tuổi hỏng nửa khuôn mặt
Thật sự tôi không dám nhìn lâu vào khuôn mặt cậu bé đáng yêu trên giường bệnh, bởi một nửa mặt của cậu bé vốn xinh xắn nay đã xạm đen do ca bỏng nước sôi kinh hoàng trước đó ít ngày. Cậu bé tên là Trịnh Duy Tuấn, 15 tháng tuổi (quê ở thôn Minh Thái, xã Minh Sơn, huyện Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hóa), đang nằm cấp cứu ở Khoa Hồi sức Cấp cứu Viện bỏng Quốc gia, Hà Nội.
Một chi họ Trịnh ở Quỳnh Lưu mong tìm nguồn gốc
Trinhtoc.com nhận được thư của ông Trịnh Ngọc Năng, quê xóm 3, Quỳnh Hưng, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Nội dung thư như sau: Tôi là Trịnh Ngọc Năng, sinh năm 1958, là giáo viên, quê xóm 3, Quỳnh Hưng, Quỳnh Lưu, Nghệ An
Nghệ sỹ ưu tú Hồng Lựu được phong tặng danh hiệu Nghệ sỹ Nhân dân
Nghệ sỹ ưu tú Hồng Lựu sinh năm 1967 tại xã Đồng Văn (Thanh Chương - Nghệ An). Bà ngoại là nghệ nhân hát Ghẹo, hát Ví, chị thừa hưởng những tố chất đó của bà và mẹ (mẹ chị có giọng hát hay nhất vùng).
GS Trịnh Xuân Thuận được tặng Giải thưởng Cino del Duca 2012
Đây là giải thưởng văn chương và khoa học danh giá, kèm theo 300 nghìn euro, do hội đồng 14 thành viên của bốn viện hàn lâm thuộc Học viện Pháp quốc xét tặng
BẾN TRE, MONG ĐƯỢC NỐI GIA PHẢ, NGUỒN CỘI
Tôi là Trịnh Nguyên Phương Nam, sinh năm 1977, dòng họ và gia đình tôi sống ở Bến Tre từ lâu. Tôi không biết cụ tổ của chi họ tên gì vì khi tôi sinh ra sau khi ông nội tôi và các bác tôi đã mất. Cha tôi cũng đã mất năm 1990. Tôi rất muốn biết tin tức dòng họ và không biết hỏi ai để trả lời


















